Thứ Ba, 28 tháng 4, 2015

Bí quyết se khít lỗ chân lông hiệu quả với rau răm

Ăn quá nhiều rau răm không tốt cho sức khoẻ. Tuy nhiên, dùng rau răm làm mặt nạ giúp se khít lỗ chân lông lại rất tốt.
Se lỗ chân lông bằng rau răm
Hầu hết mọi người chỉ biết đến rau răm với tác dụng là thực phẩm hàng ngày và ít ai biết được rằng rau răm con có khả năng làm se khít lỗ chân lông.

Rau răm giúp se lỗ chân lông nhanh chóng.
Bạn chỉ cần giã nát rau răm rồi trộn đều với muối, sau đó vắt lấy nước cốt thoa đều lên mặt. Để “lớp mặt nạ” này trong 2 tiếng rồi rửa sạch lại với nước. Chỉ cần bạn kiên trì trong một thời gian, lỗ chân lông trên da mặt sẽ thu nhỏ lại đồng thời làn da cũng trở nên mịn màng hơn.
Cách phòng lỗ chân lông to
Trang điểm nhẹ, nhất là đối với bạn có làn da nhờn, dễ ra mồ hôi. Việc bịt kín lỗ chân lông bằng kem và phấn càng làm cho lỗ chân lông hở rộng thêm.
Sử dụng nước hoa hồng sau khi rửa mặt để giúp lỗ chân lông se lại.
Tránh thức khuya, ăn nhiều dầu mỡ gây nổi mụn. Hãy giảm những loại thức ăn xào, rán, cay, thay vào đó là các loại rau, hoa quả tươi để cung cấp nhiều vitamin cho da.
Không nên nặn mụn, bởi càng nặn bạn càng dễ bị viêm nhiễm và lỗ chân lông càng to hơn.
Đắp mặt nạ ít nhất tuần một lần cho da được thông thoáng.
Rửa mặt sạch 2 lần/ngày bằng sản phẩm tẩy rửa thích hợp cho từng loại da, đặc biệt ở những bạn da nhờn thường rất dễ bị lỗ chân lông to. Tẩy trang trước khi ngủ. Không nên rửa mặt quá 3 lần mỗi ngày vì sẽ làm mất cân bằng độ ẩm dẫm tới mụn nổi nhiều hơn.

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

Bài thuốc chữa bệnh từ cây chút chít

heo Y học cổ truyền, cây chút chít có vị chua đắng, tính lạnh tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, nhuận tràng, sát trùng… Có tác dụng chữa táo bón, mụn nhọt, hắc lào, ứ huyết sưng đau… Trong dân gian, trước đây người ta thường dùng lá xát vào những chỗ da bị hắc lào hoặc dùng nước sắc lá và rễ để chữa hay rửa các mụn ghẻ.
Cây  chút chít còn có tên gọi là thổ đại hoàng, dương đề, lưỡi bò… là loại cây thảo, rễ khỏe, thân mọc đứng, có rãnh. Các lá gần gốc to hơn các lá phần trên nhiều, phiến lá hình mũi mác dài, hẹp, hơi nhọn ở hai đầu, nhẵn, mép nguyên. Hoa ở ngọn, mọc sát nhau nhất là ở đỉnh, cuống hoa mảnh, có đốt ở phần gốc. Bao hoa có 6 mảnh, vòng trong tròn, kéo dài ra thành một đầu nhọn. Quả hình 3 cạnh. Cây mọc hoang ở khắp nơi, ở bờ ruộng ẩm, hoặc ở trong các ruộng rau muống, nương mạ đã hết nước. Thường mọc từ tháng 1 đến tháng 5.
bai-thuoc-chua-benh-tu-cay-chut-chit
Những người hư hàn, tiêu chảy không dùng cây chút chít
Bộ phận dùng làm thuốc là rễ củ, thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất là vào mùa thu đông. Đào lấy rễ cây già, rửa sạch, bỏ rễ con, để nguyên hoặc thái mỏng, phơi hay sấy khô. Dược liệu là mấu rễ tròn, dài 10 – 20cm, đường kính 1 – 1,5cm, vỏ ngoài màu vàng nâu hay nâu tươi, có vết nhăn dọc, cắt ngang vết cắt không bằng phẳng, lổn nhổn màu vàng, mùi nhẹ.
Một số bài thuốc thường dùng
Bài 1: Chữa hắc lào: Dùng rễ chút chít 90g, phơi khô ngâm với 600ml rượu, mỗi ngày lắc bình 1 lần, ngâm khoảng 10 ngày, lọc lấy nước bôi vào vùng da bị hắc lào đã rửa sạch thấm khô, ngày 1 lần. Dùng liền 5 ngày.
Bài 2:  Chữa mụn nhọt sưng đau (chưa vỡ mủ): Rễ chút chít 15g, thái mỏng, cho thêm ít dấm đắp vào mụn khoảng 1- 2 giờ, tháo bỏ thuốc ngày 2 lần, đắp liền 3 ngày.
Bài 3: Chữa mẩn ngứa do nóng: Dùng lá chút chít tươi 15g, rửa sạch giã nát, chà xát nhẹ vào nơi bị ngứa, sau khi đã rửa sạch, lau khô ngày 2 lần.
Bài 4:  Chữa táo bón: Rễ chút chít 4g, cam thảo 4g. Tất cả rửa sạch đổ 3 bát con nước sắc còn 1 bát, chia 2 lần uống trong ngày, uống lúc còn nóng. Uống liền 3 ngày.
Kiêng kỵ: Những người hư hàn, tiêu chảy không dùng.

Một số bài thuốc hay từ khế

Cây khế có tên khác là ngũ liễm tử, ngũ lăng tử. Là cây gỗ thường xanh cao tới 10 – 12m. Lá kép lông chim, mỏng hình trái xoan nhọn. Cụm hoa ngắn, thành chùm xim, ở nách các lá, màu hồng hay tím. Quả to, thiết diện hình ngôi sao 5 múi. Mùa hoa tháng 4 – 8, quả tháng 10 – 12. Trong y học cổ truyền thường sử dụng khế chua để chữa bệnh.
Theo Đông y, quả khế vị chua và ngọt, tính bình; có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu, làm long đờm và tiết nước bọt. Rễ khế vị chua, tính bình; có tác dụng trừ phong thấp, giảm đau. Thân và lá vị chua và se, tính bình; có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu. Hoa vị ngọt, tính bình.
mot-so-bai-thuoc-hay-tu-khe
Một số bài thuốc hay từ khế:
Chữa nước ăn chân, lở loét, đau nhức: Lấy 1 – 2 quả khế chín, vùi trong tro nóng để vừa ấm rồi áp lên chỗ đau.
Chữa bí tiểu: Khế chua 7 quả, mỗi quả chỉ lấy 1/3 phía gần cuống. Nấu với 600ml nước, sắc còn 300ml, uống lúc còn ấm nóng. Ở ngoài, lấy 1 quả khế và 1 củ tỏi giã nát nhuyễn, đắp vào rốn. Dùng liên tục 3 – 5 ngày.
Chữa cảm cúm, mình mẩy đau nhức: Khế chua 3 quả, nướng chín, vắt lấy nước cốt, hòa với 50ml rượu trắng, uống 1 lần hoặc chia làm 2 lần, không uống vào lúc no quá hay đói quá. Dùng liền 3 ngày.
Chữa cảm sốt, nhức đầu, đi tiểu ít, cảm nắng: Lá khế tươi 100g sao thơm, nấu với 750ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn. Hoặc dùng lá khế tươi 100g, lá chanh tươi 20 – 40g, hai thứ rửa thật sạch, giã nát, vắt lấy nước chia 2 lần uống trước bữa ăn. Dùng 3 – 5 ngày.
mot-so-bai-thuoc-hay-tu-khe
Chữa viêm họng cấp: Lá khế tươi 80 – 100g, thêm ít muối, giã nát, vắt lấy nước cốt, chia 2 – 3 lần để ngậm và nuốt dần. Dùng 3 – 5 ngày.
Chữa ho khan, ho có đờm: Hoa khế (sao với nước gừng) 8 – 12g, cam thảo nam 12g, tía tô 8 – 10g, kinh giới 8 – 10g. Nấu với 750ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn.
Lưu ý: Trẻ em trong giai đoạn phát triển nên hạn chế ăn khế và những thức ăn có nhiều axit ôxalic như lá me chua, chanh… vì axit ôxalic cản trở sự hấp thu canxi cần thiết cho sự phát triển của cơ thể.
Những người bị bệnh thận cũng không nên ăn khế vì axit oxalic trong khế cũng dễ gây ra sỏi thận.

Bài thuốc chữa bệnh từ măng tre

Măng tre là chồi non của một số cây thuộc họ tre (Bambusaceae). Chỉ dùng măng cây tre già hay tre mỡ. Măng hình nón, phủ bởi những vòng năng cứng, đầu xẻ thành tua ngắn. Người ta thu hoạch măng tre vào mùa xuân khi chồi nhú khỏi mặt đất cao 15-20cm. Lột mo nang, rửa sạch, thường dùng tươi. Dược liệu có vị ngọt, hơi đắng, tính mát bình, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, mát gan, chỉ khát tiêu đờm, làm se, nhuận táo, chống co thắt, được dùng trong những trường hợp sau.
Chữa hen suyễn, thấp khớp: măng tre 40g giã nát, ép lấy nước. Ốc sên hoa 2 con to (loài ốc có vỏ dày, bóng, màu vàng nâu đen, miệng không có vảy) đập vỏ, bỏ ruột, chỉ lấy phần thịt đem xát với muối và phèn chua, rửa sạch cho hết nhớt, nước vàng, thái nhỏ rồi nấu lấy nước đặc. Trộn hai nước, uống làm 1-2 lần trong ngày. Dùng trong thời gian dài.
bai-thuoc-chua-benh-tu-mang-tre
Chữa sốt cao: măng tre 30g, thái nhỏ, ép cùng với gừng tươi 10g lấy nước uống làm một lần. Ngày uống hai lần.
Chữa ho, viêm họng: măng tre 20g, me chua đất hoa vàng 20g, rễ dâu (phần vỏ trắng ở trong) 10g, tẩm mật, sao vàng, gừng 8g. Tất cả giã nát, thêm ít đường trắng hoặc mật ong, hấp cơm 10-15 phút. Lấy ra để nguội, uống làm hai lần trong ngày.
Chữa mụn nhọt, đầu đinh: măng tre mới nhú 20g, bồ công anh 10g, gừng tươi 5g, thái nhỏ, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống trong ngày.
Chữa sâu quảng, lở loét: dùng ngoài măng tre 100g phối hợp với quả hồi 50g, lá chanh 50g, lá thuốc lào 50g, rửa sạch, giã nát, đắp chữa sâu quảng, lở loét.
Nhiều người cho rằng ăn măng tre thường xuyên sẽ giảm béo. Người tỳ vị hư hàn hoặc đang dưỡng bệnh không nên dùng măng tre vì khó tiêu, người bị bệnh sốt rét ăn măng tre dễ bị tái phát.

Bài thuốc chữa bệnh chảy máu cam

Chảy máu cam Đông y gọi là “Tỵ nục”- một trong những chứng “nục huyết”, bệnh phát sinh do huyết nhiệt vong hành nghĩa là huyết phận có nhiệt gây nên. Nguyên nhân gây bệnh thường không chỉ do tổn thương ở mũi mà còn do chức năng hoạt động các tạng phế, can, thận, tỳ, vị thiếu điều đạt mà sinh bệnh. Khi bị chảy máu cam thường dùng thuốc tại chỗ để chỉ huyết, có thể dùng một trong các phương sau:
- Dùng một củ can khương gọt nhọn, đem nướng qua rồi nhét vào lỗ mũi.
- Sơn chi tử (quả dành dành) hoặc tông lu bì (bẹ móc) đốt cháy tán bột nhỏ rồi rắc vào lỗ mũi.
- Thanh tương tử (hạt mào gà trắng) sắc đặc nhỏ vào trong mũi sẽ cầm được huyết.
Ngoài ra, có thể dùng một ít tỏi và hồng đơn đồng lượng giã nhừ trộn đều, nếu xuất huyết mũi trái thì đắp vào lòng bàn tay phải và ngược lại mũi phải thì đắp tay trái, huyết sẽ được cầm.
bai-thuoc-chua-benh-chay-mau-cam
Rễ hẹ tươi sắc nước có tác dụng chỉ huyết.
Các thuốc đường uống: Trong mọi trường hợp khi xuất huyết đường mũi dùng:
- Ngó sen tươi ninh với móng giò lợn, ăn vài lần.
- Ngải diệp tươi 12g, trắc bá diệp 10g, sinh địa 12g sắc uống ngày 1 thang, 2 – 3 ngày liền hoặc lấy một nắm rau muống rửa sạch, giã nát thêm ít đường và pha chút nước sôi vào uống, ngày 1 lần.
Nếu chảy máu cam liên tục dùng một trong các bài sau:
- Vương bất lưu hành 30g, sắc đặc, uống nóng, ngày 1 thang.
- Đăng tâm 40g sao vàng tán bột, hoà với 4g chu sa, chia 2- 3 lần uống với nước cơm.
- Rễ hẹ tươi 30g, rửa sạch sắc với 200ml nước đến còn phân nửa thêm đường đỏ 10g, uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần sẽ có tác dụng chỉ huyết.
- Tam thất 6g (hoặc tông lư bì 6g), tóc người 6g (sao tồn tính), tán bột, mỗi lần uống 3g, ngày 3 lần với nước sắc trắc bách diệp, ngẫu tiết mỗi thứ 12g.
- Nhân trung bạch (cặn nước tiểu) đem để lên hòn ngói mới bồi cho khô, nghiền nhỏ pha thêm một ít xạ hương, hoà rượu nóng cho uống.
Trường hợp chảy máu cam do nhiệt dùng
- Bài tứ sinh (bốn loại lá tươi) gồm tiên sinh địa hoàng 24g, ngải cứu tươi 6g, trắc bá diệp tươi 9g, hà diệp tươi (hoặc bạc hà tươi) 9g, sắc uống.
- Hoặc trúc nhự 8g, sinh địa 8g, hoàng cầm 6g, bạch thược 6g, mạch môn đông 8g. Sắc uống ngày một thang.
- Có thể dùng thiến thảo căn 10g, trắc bách diệp 5g, sinh địa 15g, ngũ vị tử 10g, hoàng cầm 5g, cam thảo 5g. Sắc uống.
Trường hợp đổ máu cam do ảnh hưởng chức năng hoạt động của các tạng trong cơ thể
- Do ăn nhiều thứ cay nóng làm cho vị nhiệt gây nên bệnh dùng thạch cao 24g, thục địa 24g, mạch môn đông 16g, tri mẫu 12g, ngưu tất 12g, lô căn 12g, mao căn 12g. Sắc uống.
- Trường hợp âm hư hỏa vượng gây chảy máu cam dùng thục địa 24g, mạch môn đông 24g, tri mẫu 24g, ngưu tất 24g, huyền sâm 12g, a giao 12g, thiên môn đông 24g, ngẫu tiết 24g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2-3 lần.
- Nếu do can hỏa vượng bốc lên dùng bài: sinh địa 16g, đương quy 12g, hoàng cầm 8g, trắc bá diệp 8g, xích phục linh 10g, cam thảo 6g, xích thược 12g, hương phụ 10g, sơn chi 10g, hoàng liên 6g, cát cánh 10g, ngưu tất 12g. Sắc uống.
- Nếu say sưa quá độ làm thương tổn đến phế mà nục huyết dùng bách thảo sương 20g, hòe hoa 80g, tán thành bột, mỗi lần uống 8g, ngày 2 lần, chiêu với 60ml nước sắc bạch mao căn.
- Trường hợp chảy máu cam do phế nhiệt dùng bạc hà 6g, hoàng kỳ 10g, sinh địa 16g, a giao 8g, mao căn 12g, mạch môn đông 12g, bồ hoàng 6g, bối mẫu 8g, tang bạch bì 10g, cát cánh 10g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày một thang chia 2-3 lần.

Bài thuốc chữa bệnh từ rau thìa là

Thìa là là một loại rau gia vị rất quen thuộc trong nhiều món ăn vì vừa thơm ngon, vừa át được mùi tanh. Ngoài tác dụng làm gia vị trong ẩm thực, thì là còn có nhiều lợi ích trong việc phòng ngừa bệnh…
Còn gọi là rau thì là; tên khoa học Anathum graveolens, họ Hoa tán Apiaceae. Cây trồng bằng hạt, lấy thân, lá làm gia vị. Cây cỏ, thân cao 60-80cm. Lá mọc so le, có bẹ xẻ thùy lông chim 3 lần. Cụm hoa tán kép gồm 5-15 tán nhỏ hoa vàng, mọc ở ngọn cành và kẽ lá. Quả và lá có tinh dầu kích thích tiêu hóa, bổ tỳ vị, thông kinh lợi tiểu lợi sữa. Thìa là được trồng khắp nơi ở nước ta, chủ yếu để lấy lá ăn nấu với cá. Làm thuốc thì dùng quả.
Trong công nghiệp hương liệu quả thìa là được dùng phối hợp với một số quả khác như mùi để làm thơm chè. Quả thìa là được dùng chữa các bệnh sau:
- Khó tiêu, chướng bụng, nôn mửa, nấc: Dùng 10g hạt sắc uống.
- Huyết áo cao, xơ vữa động mạch dẫn tới nhức đầu khó ngủ: hạt thìa là 5g giã nhỏ; sắc uống ngày 2 lần; uống liên tục nhiều ngày làm giảm cholesterol trong máu.
bai-thuoc-chua-benh-tu-rau-thia-la
- Viêm thận, sỏi bàng quang, sỏi thận: giã hạt thìa là 5g hãm như trà; uống 5-6 lần trong ngày.
- Ít sữa : hạt thìa là 10g sắc uống hàng ngày.
- Chữa bệnh đường hô hấp: trong trường hợp cảm lạnh, cúm, hoặc viêm cuống phổi. Dùng khoảng 60g hạt chế trong nước sôi, lọc lấy nước hòa với mật ong, chia 3 lần uống trong ngày.
- Chữa rối loạn kinh nguyệt: thì là có tác dụng kích thích và điều hòa chu kỳ kinh nguyệt. Nó làm giảm đau trong các trường hợp đau bụng kinh ở các thiếu nữ và trong các trường hợp bế kinh gây ra bởi thiếu máu, cảm lạnh hoặc do có thai, dùng 60g dịch chiết lá thì là trộn chung với 1 muỗng nước ép rau mùi tây, chia 3 lần uống trong ngày.
- Chữa hơi thở hôi: nhai hạt thì là mỗi ngày sẽ cải thiện được hơi thở, giúp hơi thở thơm tho hơn.

Món ăn – Bài thuốc chữa bệnh từ lươn

Thiên ngư là con lươn – một trong bốn món tươi ngon dưới sông (tứ đại hà tiên), là “sâm động vật dưới nước”. Lươn tính ôn, vị ngọt, có công hiệu bổ khí dưỡng huyết, làm mạnh gân cốt; thích hợp với các chứng lao lực, ho hen, tiêu khát, kiết lỵ, phong thấp đau nhức, thận hư, đau lưng, bổ trí não.
Tuệ Tĩnh đã viết trong Nam dược thần hiệu: Lươn vị ngọt, tính rất ấm, không độc, bổ trung ích khí, chữa băng huyết, khử thấp, trừ phong ấm bụng.
Không chỉ là món ăn ngon, bổ dưỡng, tất cả các bộ phận của con lươn còn có tác dụng chữa bệnh.
Đầu lươn (Thiên ngư đầu): Vị ngọt, tính bình, không độc. Xương đầu đốt cháy chỉ được bệnh lỵ. Xương đầu lươn chữa được chứng tiêu khát, ăn uống không tiêu.
Da lươn (Thiên ngư bì): Chữa người đàn bà có vú kết hạch rắn chắc như đá đau nhức, lấy da lươn đốt cháy thành than, tán nhỏ, uống với rượu nóng lúc đói.
Xương lươn (Thiên ngư cốt): Xương lương đốt cháy thành than, hòa dầu bôi nhọt ác tính, dùng trị phong nhiệt ung độc. Dân gian còn dùng xương lươn rang với cát, tán nhỏ, hòa với nước lọc uống trị được bệnh đau lưng.
mon-an-bai-thuoc-chua-benh-tu-luon
Một số món ăn từ lươn có tác dụng chữa bệnh:
Chữa khí huyết hư nhược sau khi sinh: lươn 1 con (250 – 300g), kê nội kim 6g, hành, gừng, nước tương, muối, rượu vang, bột ngọt vừa đủ. Lươn làm thịt, bỏ nội tạng rửa sạch, cắt đoạn dài 6cm, kê nội kim rửa sạch, bỏ vào bát sứ cùng thịt lươn, thêm hành, gừng, rượu, muối, nước tương dùng lửa lớn chưng chín, rắc bột ngọt vào trộn đều là được.
Bổ thần kinh, bổ âm mát gan, thanh nhiệt trừ thấp, phòng chữa viêm gan: lươn 2 con (mỗi con 300g); gia vị, nhân trần 30g; râu ngô, lá dâu, đẳng sâm, táo nhân, huyền sâm, xa tiền tử mỗi vị 15g. Sắc thuốc lấy nước. Làm lươn sạch chặt khúc 2cm, bỏ xương ống, khía, rửa qua nước muối, đổ nước thuốc, lươn, gia vị, nấu lửa nhỏ cho chín rồi ăn nóng.
Tiểu tiện ra máu do âm hư hỏa vượng: lươn 250g bỏ ruột thái mỏng, mướp đắng 250g. Nấu với nước vừa dùng. Ngày chia ăn 2 lần.
Bổ trí não cho người lao động trí óc: đầu lươn 75g, thịt quay 15g, lõi cải 15g, tỏi 5g, dầu ăn 25g, rượu 5g, mỡ gà 3g. Thịt thái lát, lõi cải thái. Rán qua đầu lươn, cho rượu, gia vị nấu đặc sánh rồi cho lõi cải, thịt đun lại cho sôi để ăn. Đầu lươn còn om với thịt ba chỉ, chân gà, cánh vịt, nấm hương, tỏi, gừng, thích hợp với người già khí huyết hư, lú lẫn.
Bồi dưỡng cho người già, trẻ em gầy yếu, sản phụ sau sinh: Vài con lươn to, mổ bụng bỏ ruột, rút chỉ máu dọc sống lưng. Dùng muối làm sạch ướp nước tương, gừng, xì dầu, ít rượu trắng. Chờ cơm sắp cạn trải đều lươn trên mặt cơm, hấp cho chín. Ăn nóng.

Công dụng chữa bệnh thần kỳ từ vỏ trứng gà

Sau khi ăn trứng chúng ta thường bỏ vỏ đi. Tuy nhiên, vỏ trứng gà có công dụng chữa bệnh thần kỳ mà không phải ai cũng biết.
Chữa ho gà
Lấy vỏ trứng sống 1 cái, rễ cỏ ga, lá chanh, lá táo, mỗi thứ 20 g, vỏ quýt 10 g. Tất cả thái nhỏ, sao vàng, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống làm hai lần trong ngày.
Chữa hôi miệng
Vỏ trứng sống rửa sạch, đập vỡ vụn, rang cho khô giòn, rây bột mịn, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 2 g với nước sôi để nguội.
cong-dung-chua-benh-than-ky-tu-vo-trung-ga
Vỏ trừng gà có công dụng chữa bệnh tuyệt vời.
Chữa chứng sưng mắt đỏ, sợ ánh sáng
Lấy vỏ trứng đã nở con 50 g sao vàng, bạch chỉ, cam thảo, mỗi vị 12 g, tán bột, rây mịn, uống mỗi lần 1-4 g với nước nóng.
Ra mồ hôi trộm
Màng trong vỏ trứng 10 cái, hạt vải 10 hạt, hồng táo 5 quả. Nấu lấy nước đặc uống. Ngày uống 2 lần sáng và tối vào lúc bụng đói.
Nôn và tiêu chảy
Vỏ trứng 1 quả sao tán bột, uống với nước ấm. Còn dùng bột này cho người bị ợ chua, viêm loét dạ dày.
Viêm họng mạn
Màng vỏ trứng 5 quả, thiên môn 12 g, mật ong 1 thìa. Nấu cách thủy uống.
Bệnh sởi
Vỏ trứng 50 g sao khô, tán bột, uống mỗi lần 2 g. Ngày 3 lần với nước ấm.

Món ăn – Bài thuốc từ khoai sọ

Khoai sọ, khoai môn là thực phẩm rất quen thuộc, chế biến thành nhiều món ăn ngon được nhiều người ưa chuộng. Chúng chứa nhiều tinh bột, lipid, đường, chất xơ, sinh tố và khoáng chất (Fe, Ca, P) và nhiều acid amin. Các chất xơ trong khoai giúp tăng hoạt động hấp thu của ruột và tác dụng nhuận tràng chống táo bón; các acid béo chưa no linoleic và linolenic có tác dụng làm hạ huyết áp, giãn mạch, giảm cholesterol máu.
Theo Đông y, lá khoai sọ, khoai môn có vị cay, tính  bình, có độc; củ vị ngọt cay, tính  bình; vào tỳ thận. Có tác dụng ích khí bổ thận, phá huyết tán kết, khu phong, chỉ thống, trừ đàm tiêu thũng.
mon-an-bai-thuoc-tu-khoai-so
Một số món ăn thuốc từ khoai sọ
Canh cua khoai sọ: cua đồng 200g, khoai sọ 60g, rau rút 1 mớ. Cua đồng bỏ yếm và mai, rửa sạch giã nát, lọc lấy nước, cho mắm muối vừa ăn; khoai sọ cạo bỏ vỏ, rửa sạch bổ miếng vừa ăn, rau rút lấy phần lá, cọng non, bỏ rễ và bấc ngắt đoạn, rửa sạch. Cho khoai vào nước cua, nấu đến khi khoai chín nhừ, cho rau rút vào, đun vừa chín là được. Ăn trong ngày; dùng liền 2 – 3 ngày. Món này tốt cho người tâm trạng bồn chồn, kém ăn ít ngủ.
Xương lợn hầm khoai sọ: khoai sọ 60g, xương cẳng hoặc xương sống lợn 100g. Khoai sọ gọt vỏ rửa sạch, xương lợn chặt thành đoạn ngắn, thêm muối, nước gia vị, đun nhỏ lửa trong 2 giờ, cho ăn ngày 2 lần, có tác dụng khu phong trừ thấp. Món ngày dùng cho người bị nổi ban dị ứng, đau nhức tay chân.
Ngoài ra, khoai sọ, khoai môn còn dược dùng chữa các bệnh:
Thông hầu họng kháng độc: khoai sọ 15 – 20g, rễ kỷ tử 50g. Sắc trong 2 giờ, gạn lấy nước trong cho uống ngày 1 lần. Uống liên tục 60 ngày. Dùng cho bệnh nhân bị u bướu vùng hầu họng.
Chữa tiêu chảy, lỵ: lá khoai sọ 30g, củ cà rốt 30g, tỏi vài nhánh. Sắc uống.
Chữa mụn nhọt, đầu đinh: củ khoai tươi và giấm, liều lượng bằng nhau. Đun sôi và nghiền nát, đắp vào chỗ đau.
Chữa vết thương kín sưng nề: khoai sọ 120g, hành sống 3 củ. Giã nát, thêm chút rượu trộn đều, bôi đắp qua gạc mỏng trên chỗ đụng giập chấn thương kín có sưng nề bầm tím. Tác dụng: hoạt huyết tiêu viêm.
Trị rắn cắn, ong đốt: lá khoai tươi giã nát, đắp vào chỗ đau.
Chữa mề đay: bẹ lá khoai 60g, rễ cây tai chuột 30g, hồng táo 30g, đường đỏ 30g. Sắc uống.
Chú ý: khoai sọ, khoai môn phải nấu chín kỹ để tránh gây ngứa.

Công dụng chữa bệnh của lá trầu không

Ngoài công dụng dùng để ăn (kèm với vôi, cau), lá trầu không còn được sử dụng như một phương thốc dân gian đều điều trị nhiều chứng bệnh viêm nhiễm thông thường, bệnh về da…
cong-dung-chua-benh-cua-la-trau-khong
Lá trầu không có chất kháng sinh tự nhiên nên trị được nhiều bệnh như ho, ngứa, đau dạ dày…
Kết quả nghiên cứu của khoa học hiện đại cho thấy trong 100g lá trầu chứa tới 2,4% tinh dầu. Các thành phần chính trong lá trầu không có hoạt tính kháng sinh mạnh, ức chế nhiều chủng vi khuẩn như” tụ cầu khuẩn, phế cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, trực khuẩn Coli, lỵ … và có tác dụng kháng nấm mạnh đối với nhiều chủng loại nấm. Do đó, lá trầu mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe.
1.    Làm thuốc giảm đau
Tác dụng giảm đau hiệu nghiệm của lá trầu không giúp làm dịu các cơn đau nhanh chóng. Bạn có thể dùng loại lá này để giảm đau trong các trường hợp bị trầy, rách hay xước da, phát ban hay sưng viêm (cả bên trong lẫn bên ngoài), khó tiêu, táo bón… Chỉ cần lấy một vài lá trầu không giã nát rồi đắp lên chỗ đang bị đau. Ngoài ra, bạn cũng có thể nhai nát lá trầu không, nhấp lấy phần nước tiết ra rồi nhả bả để làm dịu những cơn đau có nguồn gốc từ bên trong cơ thể.
2.    Chữa táo bón
Trong lá trầu không có chứa rất nhiều chất chống ô-xy hóa, giúp đánh bại các gốc tự do trong cơ thể, khôi phục lại mức pH bình thường trong dạ dày. Nhờ đó, chứng táo bón sẽ được xoa dịu. Cách chữa táo bón bằng lá trầu không khá đơn giản: hãy nhai nát vài lá trầu rồi nuốt lấy nước và nhả bả khi bụng đang đói hoặc băm nát lá trầu không cho vào nước đã đun sôi để nguội và để qua đêm. Uống nước này vào ngày hôm sau khi bụng đói.
3.    Khắc phục tình trạng khó tiêu
Lá trầu không có khả năng cải thiện khả năng chuyển hóa trong cơ thể, giúp kích thích sự tuần hoàn bên trong ruột để ruột hấp thu các khoáng chất và vitamin từ thức ăn tốt hơn. Chất thải cũng sẽ được loại bỏ dễ dàng do cơ vòng hoạt động hiệu quả hơn nhờ vào tác dụng kích thích của lá trầu không đối với cơ vòng.
cong-dung-chua-benh-cua-la-trau-khong
4.    Hạn chế các cơn đau do đầy hơi
Trào ngược dạ dày thực quản sẽ khiến bạn luôn có cảm giác khó chịu trong hệ thống tiêu hóa với nhiều biểu hiện như ợ nóng, đau ngực, khó nuốt, nôn sống… Lá trầu không là một trong những vị thuốc giúp kiểm soát chứng trào ngược dạ dày thực quản hiệu quả nằng cách giữ cho tá tràng luôn an toàn trước sự tấn công của các chất độc và những gốc tự do gây hại. Nhờ đó, lượng a-xít trong dạ dày cũng được giữ ở mức cân bằng, làm dịu cảm giác đầy hơi. Hơi gas sẽ thoát ra bên ngoài trong quá trình co thắt và giản nở của cơ vòng, ngăn ngừa hiệu quả tình trạng trào ngược a-xít lên thực quản, gây ra các cơn đau khó chịu.
5.    Tăng cảm giác đói
Chứng đau bao tử luôn khiến bạn có cảm giác chán ăn. Nguyên nhân là vì lượng pH trong dạ dày đang bị mất cân bằng, khiến các hóc-môn tạo cảm giác đói không được tiết ra ở mức tối ưu. Lá trầu không có khả năng khôi phục lại sự cân bằng của mức pH trong dạ dày bằng cách loại thải các độc tố ra bên ngoài. Vì vậy, bạn sẽ cảm thấy ngon miệng hơn khi ăn.
cong-dung-chua-benh-cua-la-trau-khong
6.    Bảo vệ sức khỏe răng miệng
Nhai lá trầu không có thể đánh bay mùi hôi miệng. Chúng còn góp phần làm dịu các cơn đau răng. Tuy nhiên, bạn đừng quên đánh răng sau khi nhai lá trầu không. Ngoài ra, cũng có thể đun sôi lá trong nước rồi lọc lấy nước súc miệng hàng ngày để giữ vệ sinh cho răng miệng và giúp hơi thở luôn thơm mát.
7.    Chữa ho
Lá trầu không có tác dụng chữa ho khá nhanh vì chúng chứa nhiều chất kháng sinh mạnh, không chỉ làm tan đờm mà còn hạn chế được tình trạng viêm nhiễm do các cơn ho dai dẳng gây ra. Cách làm thuốc ho từ lá trầu không như sau:
–    Đun sôi lá trầu không trong nước cùng với một ít nụ đinh hương và nhục đậu khấu.
–    Lọc lấy nước uống 3 lần mỗi ngày.
cong-dung-chua-benh-cua-la-trau-khong
8.    Chữa viêm phế quản
Tác dụng làm giảm viêm nhiễm của lá trầu không giúp chúng trở thành một loại thuốc trị viêm phế quản rất tốt. Chúng làm giảm viêm cho cuống phổi và phổi, tan đờm. Nhờ đó, tình trạng tắt nghẽn ở phổi được cải thiện, giúp phổi hoạt động tốt hơn.
9.    Khử trùng
Trong lá trầu không có chứa các poly-phenol nên sẽ ngăn ngừa được sự tấn công của các loại mầm bệnh. Chỉ cần đun lá trầu không trong nước sôi, bạn đã có ngay một loại nước khử trùng hiệu nghiệm có thể giết chết nhiều loại vi trùng, mầm bệnh gây hại cho cơ thể. Lượng poly-phenol dồi dào này còn có tác dụng giảm đau khi cơ thể đang bị viêm, sưng tấy.
10.    Trị nấm
Tình trạng nhiễm nấm thường xảy ra ở những vùng da thường xuyên bị ẩm ướt trên cơ thể. Lá trầu không là một trong những biện pháp trị nấm đơn giản, hiệu quả và rẻ tiền mà bạn có thể áp dụng tại nhà. Chỉ cần giản nát lá trầu không và chà xát lên những vùng da đang bị nấm thường xuyên, bạn sẽ không còn phải lo ngại về các loại bệnh về da do nấm gây ra.
Theo HỒNG XUÂN/Phunuon

Trị đau đầu bằng rau cải cúc

Rau cải cúc còn có tên gọi khác là cúc tần ô, rau cúc, rau tần ô. Tên khoa học là Chrysanthemum coronarium L., thuộc họ Cúc – Asteraceae.
Theo Y học cổ truyền, rau cải cúc có vị ngọt, hơi đắng, the, thơm, tính hơi mát, lành không độc, có tính năng tiêu thực, lợi trường vị, thanh đàm hỏa, yên tâm khí.
tri-dau-dau-bang-rau-cai-cuc
Cải cúc có công hiệu chữa trị ho lâu ngày , làm tán phong nhiệt, chữa đau mắt , thường được sử dụng cho các chứng như: ăn kém tiêu, viêm họng , viêm phế quản …
Vì cải cúc có tình mát, có vị ngọt nên là món ăn ưa chuộng của rất nhiều người mắc bệnh đau đầu kinh niên. Đã có rất nhiều người bị đau đầu mãn tính tin dùng cải cúc để trị bệnh.
Chúng tôi xin giới thiệu 2 bài thuốc phổ biến nhất sử dụng rau cải cúc dành cho những người mắc bệnh đau đầu.
Đặc biệt, nếu bạn mắc bệnh đau đầu quanh năm thì vào những thời điểm không đúng mùa rau cải cúc, có thể sử dụng cải cúc phơi khô cũng có công dụng và dược tính tương tự như rau cải cúc tươi.
Cải cúc sử dụng làm thuốc nhớ chọn những cây già, đã có hoa vì loại này có nhiều dược tính nhất và dễ bảo quản. Không nên cắt bỏ rễ của cải cúc.
Bài 1: Cải cúc điều trị bệnh đau đầu kinh niên
Lấy một ít cải cúc đem nấu lấy nước, mỗi ngày dùng độ 30g nước đã nấu này.
Bên ngoài thì dùng lá cải cúc hơ nóng chườm đắp lên đỉnh đầu và hai bên thái dương vào buổi tối trước khi đi ngủ (hoặc mỗi khi thấy nhức đầu).
Bài 2: Cải cúc trị đau đầu cho bà bầu
Rau cải cúc là thực phẩm an toàn giúp bà bầu chữa đau đầu.
Uống 10 – 15g nước rau cải cúc đã sắc. Nếu không thuyên giảm thì kết hợp đắp lá như hướng dẫn bên dưới.
Dùng một nắm lá cải cúc hơ nóng đắp lên hai bên thái dương và đỉnh đầu vào buổi tối trước khi đi ngủ hoặc khi bị nhức đầu.
Chỉ khoảng một tuần sau đau đầu sẽ chấm dứt.

Bài thuốc chữa bệnh từ hạt cau

Hạt cau còn có tên là tân lang, binh lang, là hạt chín già của cây cau. Vị cay, đắng, tính ôn; vào kinh tỳ, vị và đại tràng, hạt cau có tác dụng trị giun, còn có tác dụng lợi tiểu thông tiện.
Dùng cho các trường hợp bị giun sán, đầy bụng không tiêu, đau quặn, trướng bụng, tiêu chảy, hội chứng lỵ, phù nề. Hằng ngày, dùng 4 – 12g bằng cách nấu, hãm, sắc. Có thể dùng liều cao 60 – 120g khi tẩy giun sán.
bai-thuoc-chua-benh-tu-hat-cau
Một số món ăn có vị thuốc tân lang chữa bệnh:
Cháo tân lang: tân lang 15g, gạo tẻ 50g. Hạt cau nấu lấy nước, đem nước sắc nấu với gạo thành cháo, cho ăn nóng. Dùng cho các trường hợp ăn uống không tiêu, trướng bụng, nôn thổ, táo bón xen với tiêu chảy.
Tân lang trần bì tán: tân lang 12g, trần bì 6g tán mịn, trộn với mật ong liều lượng thích hợp, ăn khi đói. Dùng cho các trường hợp ợ hơi, ợ chua.
Tân lang ẩm: tân lang 10g, lai phục tử 10g, trần bì 5g. Tân lang đập vụn, lai phúc tử sao qua, trần bì rửa sạch thái lát; 3 vị nấu sắc lấy nước, thêm đường khuấy đều để nguội cho uống vài lần trong ngày. Dùng cho các trường hợp ăn uống không tiêu, đầy bụng chán ăn, đầy hơi ợ hơi, hôi miệng.
Cháo tân lang hạt bí: tân lang 9g, sơn tra 10g, cốc nha 10g, hạt bí ngô 20g, gạo tẻ 60g. Dược liệu sắc lấy nước; đem nước sắc nấu với gạo thành cháo. Ngày làm 1 lần chia 2 lần ăn. Đợt dùng 3 – 5 ngày. Trị cam tích có thoái hoá giác mạc dẫn đến mù loà ở trẻ nhỏ, thường kết hợp trị giun sán đường tiêu hoá.
Cháo tân lang ngũ vị: tân lang 20g, ngũ vị tử 9g, trạch tả 12g, quyết minh tử 14g, kỷ tử 10g, gạo tẻ 60g. Dược liệu sắc lấy nước, đem nước sắc nấu với câu kỷ tử và gạo tẻ thành cháo. Dùng cho các bệnh nhân tăng nhãn áp có các biểu hiện giãn đồng tử, đau đầu, buồn nôn… (thiên đầu thống).
Kiêng kỵ: Người tỳ hư hạ hãm (thoát vị, sổ bụng, sa dạ dày…) cần thận trọng.

Bài thuốc chữa bệnh từ hoa ngâu

Theo Y học cổ truyền, hoa ngâu có vị cay ngọt, giúp giải uất kết, làm thư giãn bên trong người, giúp tỉnh rượu, sạch phổi, tỉnh táo đầu óc, sáng mắt, ngưng phiền khát. Hoa ngâu được dùng chữa chứng đầy trướng khó chịu ở ngực, chứng nghẹn hơi mới phát, chữa ho hen và váng đầu, nhọt độc…
Ngâu hay còn gọi là ngâu ta để phân biệt khi loài ngâu ngoại lai. Là loại cây dạng bụi có thể cao tới 3,6 mét. Tán dạng tròn, phân cành nhiều. Lá dạng lá kép lông chim,  lá chét dạng trứng ngược có đầu tròn, đuôi nhọn hoặc nêm. Hoa nhỏ li ti màu vàng, tự bông dạng chùm mọc ở nách lá, cho mùi thơm dịu thanh khiết. Khác với ngâu Tàu có mũi lá nhọn, ngâu ta có đầu lá tròn và dáng cây mọc thành bụi lớn hơn.
Hoa ngâu nhỏ, màu vàng, mọc thành chùm ở kẽ lá, rất thơm, thường được dùng để ướp trà và làm vị thuốc.  Cây mọc hoang hoặc được trồng làm hàng rào, trồng trong chậu. Hiện nay nhiều nơi trồng để làm thuốc hiệu quả rất cao.
bai-thuoc-chua-benh-tu-hoa-ngau
Hoa ngâu có vị cay ngọt được dùng để ướp trà và làm thuốc.
Một số bài thường dùng:
Bài 1: Hỗ trợ điều trị tăng huyết áp: Hoa ngâu 10g, hoa cúc 30g. Tất cả cho vào ấm hãm với nước sôi. Ngày uống  3 lần vào sáng, trưa, tối, uống lúc nguội. Mỗi liệu trình uống trong 15 ngày.
Bài 2: Chữa chứng bế kinh: Hoa ngâu 10g, rượu 50g. Cho hoa vào rượu, thêm vào chút nước, nấu cách thủy đến khi hoa chín nhừ, để nguội uống. Uống trước ngày có kinh 5 ngày, ngày uống một lần vào buổi tối trước khi đi ngủ, uống liền 5 ngày.
Bài 3: Hỗ trợ điều trị  hen suyễn: Uống trà có ướp hoa ngâu hoặc hoa ngâu ngâm nước sôi già để nguội uống đều có kết quả tốt.
Bài 4 : Đau nhức xương khớp khi thay đổi thời tiết: Cành lá ngâu 30g, dây đau xương 20g, cốt toái bổ 10g, ké đầu ngựa 10g.  Tất cả cho vào ấm, đổ 700ml nước, đun nhỏ lửa còn 200ml nước, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng liền 10 ngày.
Bài 5: Chữa sưng đau, bầm tím do ngã: Hoa ngâu, lá ngâu mỗi thứ 50g. Gộp chung cả hai thứ, cho 700ml nước, đun nhỏ lửa cô thành cao. Mỗi lần dùng, bôi một ít cao này lên vải mỏng đắp vào chỗ vết thương sưng đau, 2 giờ thay băng một lần, ngày 2 lần.  Đắp đến khi vết thương giảm sưng đau. Hoặc cành lá ngâu, lá xuyên tâm liên, lá dâm bụt mỗi thứ 1 nắm nhỏ, giã nát  đắp vào vết thương, 2 giờ thay băng 1 lần, ngày đắp 2 lần.
Chú ý: Phụ nữ mang thai không được sử dụng đơn thuốc có hoa ngâu.

Bài thuốc chữa bệnh từ quả đào tiên

Quả đào tiên để chữa các bệnh như: Nhuận trường, tẩy xổ, bằng cách dùng ruột quả đào tiên làm mứt dẻo, ngày dùng 3 lần, mỗi lần chừng 10 gr sau bữa ăn.
Quả đào tiên còn có tên gọi là quả trường sinh, tên khoa học là Crescentia cujete Lin thuộc họ núc nác (bignoniacae).
Đào tiên có thân gỗ, cao từ 7-10m, lá mọc hình tán, xanh tươi quanh năm. Hoa mọc đơn độc ngay trên thân hay cành cây, có mùi hơi khó chịu. Quả đào tiên hình cầu, đường kính 6-12cm, trông gần giống với trái bưởi “da xanh”, vỏ trái cứng và bóng, cơm màu trắng, vị chua chua, có nhiều hạt dẹp, nhỏ cũng màu trắng.
Theo các thầy thuốc, trong thịt của quả đào tiên có một số acid hữu cơ (acid citric, acid clorogenic, acid creosentic…).
Quả đào tiên để chữa các bệnh như: Nhuận trường, tẩy xổ, bằng cách dùng ruột quả đào tiên làm mứt dẻo, ngày dùng 3 lần, mỗi lần chừng 10 gr sau bữa ăn. Làm thuốc trị tình trạng ăn uống kém, mất ngủ và dùng làm thuốc bổ bằng cách: Hái quả đào tiên để từ quả có vỏ màu xanh chuyển sang màu đen, mổ lấy phần thịt bên trong (cũng màu đen) để ngâm rượu sau 10 ngày là có thể lấy ra dùng được.
bai-thuoc-chua-benh-tu-qua-dao-tien
Cơm quả đào tiên phơi khô cho héo, đem sắc nước uống có tác dụng giúp ăn được, ngủ được; làm êm dịu những trường hợp bị stress (căng thẳng thần kinh), tim hồi hộp; giúp người gầy yếu), suy dinh dưỡng cảm thấy khỏe hơn; bổ phổi, chữa ho và làm dễ thở trong những trường hợp bị suyễn; giúp dễ đi tiêu và tăng cường khả năng chịu đựng của con người với khí hậu nóng, lạnh bên ngoài; làm hạ huyết áp, êm dịu thần kinh…
Sau đây là một số công dụng của quả đào tiên:
- Chế siro trị viêm họng, ho: Lấy lớp cơm chua của quả đào tiên điều chế thành siro chữa ho, viêm họng.
- Chế thuốc khỏe cho cơ thể: Thường xuyên ăn quả đào tiên chín hằng ngày. Vì theo một số tài liệu cũng có nói rằng quả đào tiên có tác dụng tăng cường tuổi thọ, trị được suy nhược cơ thể, dưỡng sinh lực và điều hòa được kinh lạc…
- Chế thuốc nhuận tràng, chống táo bón: Lấy cơm quả đào tiên còn chưa chín kết với một số vị thuốc khác điều chế thành thuốc tẩy hay làm thuốc nhuận tràng, chống táo bón.
- Chế thuốc tẩy độc: Lấy cơm quả đào tiên 600g, rượu gạo 500ml, ngâm cơm quả đào tiên cất đi để làm thuốc tẩy độc ở đường tiêu hóa.
- Chế rượu thuốc khai vị: Lấy cơm của quả đào tiên 100g cho vào 500ml rượu gạo ngâm trong 7
- 10 ngày. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 30ml vào trước bữa ăn, giúp ăn ngon miệng, tốt cho tiêu hóa.

Bài thuốc trị tóc bạc ở trẻ

Trẻ em có thể có tóc bạc khi mới… hai-ba tuổi. Theo các chuyên gia, thiếu chất dinh dưỡng và ăn uống mất cân bằng có thể gây tóc bạc sớm ở trẻ em. Bên cạnh đó, tóc bạc ở trẻ em có thể là do các nguyên nhân sau:
1. Di truyền: Đây là nguyên nhân đầu tiên khiến tóc bạc từ sớm, thậm chí từ lúc lên hai tuổi. Nếu gia đình có tiền sử tóc bạc sớm, con bạn có thể bị ảnh hưởng. Khi ấy bạn đừng quá lo lắng, bạn có thể cải thiện bằng dinh dưỡng cho bé.
2. Gàu: Các nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa gàu và tóc bạc. Mặc dù không hẳn gàu gây ra tóc bạc, nhưng nếu bị gàu quá nặng, sẽ có nguy cơ xuất hiện tóc bạc. Vì thế, nếu trẻ bị gàu, bạn hãy chữa cho hết, nếu tóc vẫn bạc, bạn hãy nghĩ đến nguyên nhân khác.
3. Bệnh tật và những rối loạn: Một số bệnh như xơ cứng và bạch biến cũng dẫn đến tóc mất sắc tố.
4. Bệnh bướu cổ: Bệnh bướu cổ liên quan đến nội tiết tố. Nếu con bạn bị bướu cổ, bé có thể bị tóc bạc.
Bài thuốc trị tóc bạc ở trẻ
bai-thuoc-tri-toc-bac-o-tre
1. Lá cà ri (H.1): Hấp lá cà ri với dầu cho đến khi lá ngả màu đen. Massage dầu lên đầu, giúp trị tóc bạc rất hữu hiệu, kể cả những người trẻ mà tóc bị bạc sớm.
2. Yaourt và men: Uống yaourt trộn với một muỗng men dinh dưỡng (nutritional yeast) mỗi ngày sẽ giúp trị tóc bạc.
bai-thuoc-tri-toc-bac-o-tre
3. Quả amla xắt miếng (H.2): Hấp quả amla (một loại dâu của Ấn Độ có thể mua ở TP.HCM) với dầu dừa và thoa lên da đầu (có thể ngâm quả amla với nước qua đêm), sử dụng nước amla để gội đầu cho trẻ.
4. Quả amla và dầu hạnh nhân: Massage hỗn hợp dầu hạnh nhân và quả amla lên da đầu. Để qua đêm trước khi xả sạch. Biện pháp này sẽ giúp trị tóc bạc ở trẻ.
bai-thuoc-tri-toc-bac-o-tre
5. Bơ sữa bò (H.3): Massage bơ sữa bò lên da đầu của trẻ rồi gội lại với nước sạch, mỗi tuần hai lần, sẽ giúp trị tóc bạc sớm.

Bài thuốc chữa bệnh trĩ từ lá lộc vừng

Các bộ phận của cây lộc vừng đều có tác dụng chữa được nhiều bệnh và dưới đây là cách làm thuốc chữa bệnh trĩ từ lá lộc vừng.
Bệnh trĩ là một bệnh phổ biến, đứng hàng đầu trong các bệnh lý vùng hậu môn. Bệnh nhân mắc bệnh trĩ thường đi khám và điều trị khi bệnh đã rất đau đớn và phức tạp. Do bệnh ở vùng kín đáo nên bệnh nhân thường e ngại, xấu hổ bất kể là phụ nữ hay nam giới.
bai-thuoc-chua-benh-tri-tu-la-loc-vung
Chữa trĩ siêu hiệu quả nhờ lá cây lộc vừng.
Trĩ được tạo thành do căng dãn quá mức một hay nhiều tĩnh mạch trĩ thuộc hệ thống tĩnh mạch trĩ trên và dưới ở hậu môn. Có hai loại trĩ gồm trĩ nội và trĩ ngoại.
Người bị bệnh trĩ sẽ gặp rất nhiều bất tiện trong sinh hoạt và công việc hằng ngày, dưới đây là bài thuốc dân gian vô cùng đơn giản để hỗ trợ bạn trong việc điều trị căn bệnh này!
Lộc vừng là một loại cây cảnh rất được ưa chuộng thoe quan niệm phong thủy của người Việt bởi vì mọi người quan niệm rằng cây này sẽ đem lại nhiều tài lộc cho gia chủ. Rất nhiều nhà sở hữu cây lộc vừng nhưng có thể ít người biết rằng lộc vừng còn có công dụng trị bệnh trĩ rất hiệu quả.
Chỉ cần một ít lá lộc vừng bạn có thể tự chữa trị bệnh trĩ tại nhà mà không mất nhiều thời gian, tiền bạc. Nếu trong nhà đang có sẵn một cây lộc vừng thì bạn hãy áp dụng ngay bài thuốc chữa bệnh trĩ hiệu quả theo hướng dẫn dưới đây nhé.
Các bộ phận của cây lộc vừng đều có tác dụng chữa được nhiều bệnh và dưới đây là cách làm thuốc chữa bệnh trĩ từ lá lộc vừng.
Bài thuốc
Chuẩn bị: 1 nắm lá lộc vừng tươi loại không già không non rửa thật sạch và rửa qua một lớp nước sôi để nguội. Sau đó để cho lá ráo sạch nước.
Buổi tối trước đi ngủ khoảng 15 phút, nhai lá cây, nuốt lấy nước, bã đắp vào hậu môn và đắp một miếng gạc để bã không rơi ra được. Bạn để yên như thế khoảng 15 phút rồi tháo bỏ bã lá và rửa lại hậu môn bằng nước sạch.
Tác dụng : làm hết táo bón, co búi trĩ (nội và ngoại) chống viêm, cầm máu. Dùng một đợt từ 7-10 ngày, sau đó nếu có thể kiếm được lá lộc vừng ăn sống khoảng 10 ngày nữa thì bạn sẽ không còn bị khổ vì trĩ nữa.