Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

Bài thuốc chữa bệnh từ cây thanh táo

Theo Đông y, cây thanh táo có vị cay, tính ấm; có tác dụng nối gân tiếp xương, tiêu sưng giảm đau. Chú ý, cây thanh táo có độc nhẹ, người bệnh nên tham khảo ý kiến của các lương y danh tiếng.
bai-thuoc-chua-benh-tu-cay-thanh-tao
Cây Thanh táo 
Cây thanh táo còn gọi là thuốc trặc, tần cửu, có tên khoa học Justicia gendarussa L. f. (Gendarussa vulgaris Nees), thuộc họ Ô rô – Acanthaceae.
Cây thanh táo là loài cây nhỏ mọc hoang hay thường được trồng làm cảnh, làm hàng rào. Cây cao 1-1,5m. Thân cành non màu xanh hoặc tím sẫm. Lá mọc đối, hình mác hẹp, có gân chính tím, không lông.
Trên mặt lá thường có những đốm vàng hoặc nâu đen do một loài nấm gây nên. Hoa mọc thành bông ở ngọn hay ở nách lá về phía ngọn bao bởi nhiều lá bắc hình sợi.
Ðài 5, hợp ở gốc cao 3-5mm. Tràng màu trắng hay hồng có đốm tía, chia 2 môi. Nhị 2, bao phấn 2 ô. Quả nang hình đinh, dài 12mm.
Bộ phận dùng: Toàn cây – Herba Justiciae, thường gọi là Tiểu bác cốt.
Theo Đông y, cây thanh táo có vị cay, tính ấm; có tác dụng nối gân tiếp xương, tiêu sưng giảm đau. Rễ có vị hơi chua cay, tính bình có tác dụng hoạt huyết, trấn thống, làm lợi đại tiểu tiện, tán phong thấp.
Vỏ rễ và vỏ thân có tác dụng gây nôn. Lá có tác dụng sát trùng. Thường được dùng trị gãy xương, sái chân, phong thấp viêm khớp xương. Rễ dùng chữa vàng da, giải độc rượu, còn trị viêm thấp khớp, bó gãy xương, trật khớp.
Liều dùng 15-20g cây khô, dạng thuốc sắc. Vỏ rễ, vỏ thân sắc uống hoặc ngâm rượu uống chữa tê thấp. Rễ và cành lá có thể dùng tươi giã đắp các vết thương chỗ sưng tấy và bó gãy xương. Còn dùng tán bột rắc trừ sâu mọt.
Sau đây là một số bài thuốc có vị thanh táo:
- Chữa bong gân sai khớp: Thanh táo 20g, lá diễn tươi 50g; cốt toái bổ, xuyên tiêu, mần tưới mỗi vị 20g. Sắc uống lúc còn ấm, mỗi ngày 1 thang. Bên ngoài dùng lá thanh táo, lá ngải cứu, lá diễn dùng tươi, lượng bằng nhau. Giã nhỏ đắp ngày 2 lần.
- Chữa ho, sốt, mồ hôi trộm: Rễ thanh táo, miếp giáp, địa cốt bì, sài hồ mỗi vị 10g; đương quy, tri mẫu mỗi vị 5g; thanh tao, ô mai mỗi vị 4g. Sắc uống trong ngày.
- Viêm tinh hoàn (dái sưng đau, một bên sa xuống): Rễ thanh táo, rễ sưng, rễ bấn trắng, rễ vạy đỏ, mỗi vị một nắm, sắc uống.
- Chữa sản phụ máu xấu đưa lên choáng váng, mắt mờ: Thanh táo, mần tưới, cỏ màn chầu, mỗi vị 20g, sắc uống.
- Chữa phong thấp, tay chân tê bại: Rễ thanh táo, dây chiều, rễ hoàng lực, rễ gai tầm xoọng, mỗi vị 20g; cốt khí củ, thiên niên kiện mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang.
- Chữa vết lở, vết thương nhiễm độc chảy máu không dứt hay nhọt lở thối loét, khó kéo miệng: Lá thanh táo và lá mỏ quạ lượng bằng nhau, rửa với nước muối, giã nhỏ, đắp rịt, thay thuốc hằng ngày. Trong uống nước sắc bạch chỉ nam, kim ngân hoa, bồ công anh, mỗi vị 1 nắm và ăn rau sống hằng ngày, sau một tuần lễ sẽ có kết quả. Chú ý, cây thanh táo có độc nhẹ, người bệnh nên tham khảo ý kiến của các lương y danh tiếng.

Bài thuốc chữa bệnh từ cây dâu da xoan

Dâu da xoan còn gọi là châm châu, dâm bôi. Cây mọc hoang ở miền núi và cũng được trồng nhiều ở địa phương.
Đông y dùng lá, vỏ thân và hạt ở quả chín làm thuốc. Có thể dùng tươi hay khô, dâu da xoan được xem như một vị thuốc chữa ho, đầy bụng. Dùng ngoài chữa đau nhức, sưng đầu gối. Quả chín ăn rất ngọt và ngon, kích thích tiêu hóa, lá dùng chữa sưng tấy, mụn nhọt, lở loét, dị ứng. Thường dùng giã nát trộn giấm bôi.
Quả chín của cây dâu da xoan ăn rất ngọt và ngon, kích thích tiêu hóa, lá dùng chữa sưng tấy, mụn nhọt, lở loét, dị ứng.
bai-thuoc-chua-benh-tu-dau-da-xoan
Cách dùng dâu da xoan chữa bệnh:
Chữa ho: vỏ cây dâu da xoan 10g, sắc khoảng 300ml nước, còn 100ml, chia hai lần uống trong ngày. Uống trong 5 ngày.
Trị chứng đau nhức, sưng đầu gối: lá dâu da xoan tươi 30g, rửa sạch giã nát, trộn với giấm hay rượu đắp lên nơi đau, sưng. Ngày đắp hai lần vào sáng và tối trước khi đi ngủ, mỗi lần đắp khoảng 30 phút.
Chữa đầy bụng, khó tiêu: hạt dâu da xoan 8g, sao vàng hạ thổ, sắc với 2 bát nước còn khoảng nửa bát. Uống khi thuốc còn ấm, uống sau bữa ăn sáng. Uống liên tục trong 3 ngày.

Bài thuốc chữa bệnh từ sài hồ

Sài hồ còn có tên khác là diệp sài hồ, trúc diệp sài hồ, bắc sài hồ. Sài hồ là rễ cây bắc sài hồ (Bupleurum chinesnis DC). Ở Việt Nam, sài hồ nam là rễ cây lức (hải sài) (Pluchea pteropoda Hemsl.), hay cành và rễ cây cúc tần (Pluchea indica Less.). Cần chú ý khi sử dụng.
Sài hồ được coi là vị thuốc chủ yếu trong đơn thuốc và thực đơn để bình bổ, điều hoà các trạng thái trầm uất kích động sốt nóng sốt rét, đau quặn đan xen kéo dài mà y lý gọi là hoà giải thoái nhiệt, sơ can giải uất. Sài hồ chứa các hợp chất saponin, tinh dầu, flavonoid. Theo Đông y, sài hồ vị đắng, tính mát; vào can, đởm, tâm bào và tam tiêu.
Có tác dụng tán nhiệt giải biểu, làm thông lợi gan, giảm đau, thăng cử dương khí và cắt cơn sốt rét. Dùng cho các trường hợp sốt nóng, sốt rét, cảm cúm (hàn nhiệt vãng lai), đau vùng ngực bụng, kinh nguyệt không đều, trung khí hạ hãm (các loại thoát vị, sa dạ dày, ruột, tử cung, sổ bụng), viêm gan mạn tính, sốt rét cơn.
bai-thuoc-chua-benh-tu-sai-ho
​Sài hồ nam là rễ cây hải sài (cây lức).
Sài hồ được dùng làm thuốc trong các trường hợp
Thông lợi, giảm đau:
Hoàn sơ can lý tỳ: sài hồ 40g, đương quy 40g, bạch mao căn 40g, sái thảo 40g, xích thược 40g, địa long 40g, chỉ thực 40g, bồ hoàng 40g, ngũ linh chi 40g, thanh bì 20g, kê nội kim 30g, miết giáp 70g, gan lợn khô 140g. Các vị tán thành bột mịn, luyện với mật thành hoàn. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 12g, uống với nước sôi để nguội. Trị viêm gan mạn tính, gan mới xơ cứng, đau nhức vùng gan, bụng đầy trướng.
Chú ý: phụ nữ có thai, người xơ giãn tĩnh mạch thực quản kiêng dùng.
Thang Đại sài hồ gia giảm: sài hồ 16g, bạch thược 12g, mộc hương 6g, uất kim 12g, đại hoàng 16g, hoàng cầm 12g. Sắc uống. Trị viêm túi mật cấp tính và đường mật nhiễm khuẩn.
Hoặc: sài hồ 12g, hoàng cầm 12g, hoàng liên 12g, mộc hương 12g, bạch thược 20g, binh lang 20g, sử quân tử 30g, vỏ rễ xoan 30g, mang tiêu 12g. Sắc uống. Trị giun đũa lên ống mật.
Tán nhiệt, giải biểu:
Thang tiểu sài hồ: sài hồ 12g, hoàng cầm 12g, pháp bán hạ 12g, cam thảo 4g, sinh khương 8g, đảng sâm 12g, đại táo 3 quả. Sắc uống. Trị chứng thiếu dương, lúc sốt lúc rét, ngực hông đầy tức, miệng đắng họng khô, tim hồi hộp, thích oẹ, chán ăn; cũng dùng trị sốt rét.
Lợi mật, cắt cơn sốt rét:
Thang tiểu sài hồ (sài hồ 12g, hoàng cầm 12g, pháp bán hạ 12g, cam thảo 4g, sinh khương 8g, đảng sâm 12g, đại táo 3 quả) thêm thảo quả 12g, thường sơn 12g. Sắc uống. Bệnh sốt rét, nóng rét kịch liệt.
Kiêng kỵ: người âm hư và can dương vượng kiêng dùn

Tác dụng chữa bệnh của cây đinh lăng

Các quốc gia ở Châu Á thường sử dụng lá cây đinh lăng như một loại thuốc bổ, chống viêm, giải độc tố và làm thuốc mỡ kháng khuẩn.
Trong một thí nghiệm với động vật gặm nhấm, các chiết xuất từ cây đinh lăng đã được chứng minh là có tác dụng kéo dài tuổi thọ.
Các nước ở khu vực Châu Á thường sử dụng lá cây đinh lăng như một loại thuốc bổ, chống viêm, giải độc tố và làm thuốc mỡ kháng khuẩn. Lá cây đinh lăng cũng được sử dụng để chữa các bệnh về tiêu hóa. Củ cây đinh lăng dùng để làm thuốc lợi tiểu, giải nhiệt, chống kiết lỵ và điều trị đau dây thần kinh và đau khớp. Ngoài những lợi ích được sử dụng làm thuốc chữa bệnh trong y học, cây đinh lăng còn được sử dụng làm cây cảnh hoặc gia vị.
Chữa bệnh tiêu hóa
Lá cây đinh lăng đem sắc lấy nước uống dùng để chữa các bệnh dạ dày như đầy hơi, khó tiêu, tiêu chảy. Ở Malaysia, người ta thường sử dụng phương pháp chữa bệnh trĩ bằng cách sắc lá cây đinh lăng thành bột mịn và cho vào một khối dài, xoa bóp trên trực tràng trước khi đi ngủ. Củ và cành đinh lăng được sử dụng để làm sạch nướu, răng và điều trị làm giảm viêm loét miệng.
tac-dung-chua-benh-cua-cay-dinh-lang
Lá cây đinh lăng đem sắc lấy nước uống dùng để chữa các bệnh dạ dày như đầy hơi, khó tiêu, tiêu chảy. Ảnh minh họa.
Bệnh thận
Cây đinh lăng được xem là loại cây có tác dụng lợi tiểu và có công dụng để điều trị bệnh thận, đặc biệt là sỏi thận. Phần lớn củ đinh lăng có nhiều lợi ích nhất. Ở Indonesia, những người mắc bệnh thận được khuyến cáo uống nước ép lá đinh lăng để lọc thận.
Những lợi ích khác
Ở Trung Quốc, cây đinh lăng còn được sử dụng để làm thoát mồ hôi, giải nhiệt và điều trị bệnh sốt. Với các chất kháng viêm, cây đinh lăng còn được sử dụng để điều trị bệnh đau dây thần kinh và đau khớp.
Lá cây đinh lăng có thể ăn sống hoặc nấu chín làm món ăn. Người ta cũng thường ăn lá cây đinh lăng cùng thịt và cá để làm giảm mùi của cá, thịt.

Bài thuốc trị ho cho bé từ húng chanh

Tinh dầu húng chanh có tính chất kháng sinh, sát khuẩn với vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp. Vì vậy, mẹ hãy thử áp dụng lá húng chanh để trị ho dứt điểm cho con.
Húng chanh là loại rau thơm rất quen thuộc, được trồng rộng rãi khắp nơi.  Lá húng chanh có tinh dầu, thành phần chủ yếu là cavaron có tác dụng trị ho.
Theo Đông y, húng chanh tính ấm, vị cay thơn, hơi chua, thơm mùi chanh, có tác dụng lợi phế, trừ đờm, giải cảm, tiêu độc. Húng chanh kết hợp với quất, đường phèn… thường dùng làm thuốc chữa ho trẻ em, bệnh đường hô hấp, viêm họng.
Sau đây là một số bài thuốc trị ho cho bé từ húng chanh hiệu quả trong mùa lạnh:
Chữa ho đờm thông thường:
Nguyên liệu: 15-16 lá húng chanh, 4-5 quả chất xanh, đường phèn.
bai-thuoc-tri-ho-cho-be-tu-hung-chanh
Đường phèn.
bai-thuoc-tri-ho-cho-be-tu-hung-chanh
Lá húng chanh, quất, đường phèn hấp cách thủy để trị ho cho con. Ảnh minh họa.
Rửa sạch lá húng chanh và quất xanh, cho vào máy xay sinh tố xay nhuyễn rồi thêm lượng đường phèn vừa đủ, hấp cách thủy khoảng 20 phút. Cho bé uống liên tục 1-2 lần/ngày đến khi hết ho.
Chữa ho nhiệt, viêm họng, khản tiếng:
Nguyên liệu: Lá húng chanh tươi 20g (rửa sạch, thái nhỏ), đường phèn 20g.
bai-thuoc-tri-ho-cho-be-tu-hung-chanh
Húng chanh hấp đường phèn để trị ho cho con. Ảnh minh họa.
Cách làm:
Cách 1: Giã dập lá húng chanh, sau đó trộn với 10ml nước sôi để cho ngấm rồi gạn lấy nước cho trẻ uống, ngày uống 2 lần.
Cách 2: Cho hai thứ vào bát, chưng cách thủy, chắt lấy nước, uống từ từ. Bã ngậm trong miệng, mút lấy nước. Mỗi ngày uống một thang, liên tục trong 3-5 ngày. (Dùng cho trẻ trên 2 tuổi)
Cảm sốt, không ra mồ hôi: Húng chanh 20g, tía tô 15g, gừng tươi 5g , cam thảo đất 15g. Sắc uống khi nước thuốc còn ấm để cho ra mồ hôi.
Hoặc Lá Húng chanh tươi 40 – 60g, rửa sạch, băm nhỏ, cho vào bát, đổ rượu trắng vào vừa xâm xấp, trộn đều, đậy kín. (Cách này chỉ cho trẻ trên 12 tuổi)
Chữa cảm hàn, ho, đau đầu, sốt không ra mồ hôi, miệng đắng: Lá húng chanh 15g, bạc hà 5g, tía tô 8g, gừng tươi 3 lát mỏng. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài thuốc chữa bệnh từ cây hướng dương

Theo Đông y, toàn bộ cây hướng dương được dùng làm thuốc: hoa có tác dụng bổ dưỡng can thận, chỉ thống (giảm đau), hạ huyết áp. Rễ có tác dụng thanh nhiệt, trừ thấp bình suyễn, chỉ khái (cầm ho). Lá có tác dụng thanh nhiệt, giải độc. Hạt hướng dương có tác dụng tư âm, chỉ lỵ, trừ mủ, thấu ban chẩn. Thân, rễ có tác dụng chữa sỏi thận, tiểu tiện khó, phù thũng, ho hen, bạch đới…
bai-thuoc-chua-benh-tu-cay-huong-duong
Cây và hoa hướng dương có nhiều tác dụng chữa bệnh.
Sau đây là một số tác dụng chữa bệnh từ cây hướng dương:
Chữa hoa mắt chóng mặt (huyễn vựng): rễ cây hướng dương 60g. Sắc uống ngày 1 thang. Hoặc 1 đĩa hoa hướng dương bỏ hạt, thêm chút đường. Sắc uống ngày 1 thang.
Cũng có thể dùng nhân hạt hướng dương 6g, giã nát, uống nước khi đi ngủ với nước đường.
Chữa bốc hoả do âm hư ở phụ nữ mãn kinh: hạt hướng dương 20g, lá dâu bánh tẻ tươi 20g, hoa hiên 10g. Sắc uống ngày 1 thang.
Chữa sỏi tiết niệu: thân cây hướng dương (bóc vỏ lấy lõi) 10g, kim tiền thảo 20g. Sắc uống 1 ngày.
Chữa bạch đới, khí hư: thân, rễ cây hướng dương 20g, hạt bo bo (ý dĩ) sao vàng 20g, rễ cây bấn 15g, cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày 1 thang.
Chữa đau bụng kinh: hạt hướng dương 40g, củ mài 15g, cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.
Chữa đái tháo đường: rễ cây hướng dương 150g. Sắc uống trước khi ăn cơm, vào buổi sáng sớm, uống liền 5 – 7 ngày.
Chữa ho gà: rễ cây hướng dương 50 – 100g, sắc uống ngày 1 thang, uống khi bụng còn đói trước khi ăn cơm sáng, trưa, tối.
Chữa sỏi túi mật: lá hướng dương 40g, rễ lau 30g. Sắc uống ngày 1 thang.
Chữa tăng huyết áp, tiện bí, ù tai: hạt hướng dương thêm gia vị, lượng nước vừa đủ, nấu chín, chắt bỏ nước, rang khô vừa, thỉnh thoảng ăn; hoặc rang khô, ăn vặt vào buổi tối. Hạt hướng dương hoặc dầu hạt hướng dương, đối với bệnh tim, tăng lượng mỡ trong máu, cao huyết áp có tác dụng phòng trị.
Chữa ho lâu ngày: hạt hướng dương 10g (giã nát), thân cây hướng dương (bóc vỏ ngoài) 15g, sau sắc lấy nước thêm đường trắng lượng vừa đủ uống.
Chữa mụn nhọt: nhân hạt hướng dương, giã nát nhuyễn, đắp hoặc bôi bằng dầu hạt hướng dương.

Bài thuốc chữa bệnh từ cây rung rúc

Theo y học cổ  truyền tất cả các bộ phận của rung rúc, đều có thể sử dụng làm thuốc. Lá và cành non cho vị thuốc gọi là lão thử nhĩ có vị hơi đắng, tính bình, không độc.  Rễ cây rung rúc cho vị thuốc thiết bao kim có vị đắng, tính bình. Có tác dụng thông ứ huyết, trừ phong thấp, tiêu thũng độc…
Cây rung rúc còn được gọi là rút rế, cứt chuột, đồng bìa, lão thử nhĩ, cẩu cước thích, đề vân thảo, thiết bao kim, ô long căn, câu nhi trà, … tên khoa học là Berchemia lineata (L.) DC., thuộc họ Táo. Là loại cây leo, cành rất mảnh, hình trụ, lúc non màu xám nhạt, sau màu hồng nâu, nhẵn, trơn, cứng rắn. Lá đơn, mọc cách, hình bầu dục, tròn ở hai đầu, gân nổi rõ rệt, mép nguyên, mặt trên màu lục, mặt dưới màu xám. Hoa màu trắng, mọc thành chùm ở kẽ lá hay đầu cành. Quả hình cầu dài, màu tím đen. Cây mọc hoang khắp nơi, thường thấy ở các bờ bụi, ven đường.
bai-thuoc-chua-benh-tu-cay-rung-ruc
Một số bài thuốc theo kinh nghiệm
Bài 1: Chữa mụn nhọt sưng đau (chưa vỡ mủ): Lá non của cây rung rúc 30g; rửa sạch, để ráo nước, giã nát với chút muối, đắp lên mụn nhọt sau 2 giờ tháo băng, đắp ngày 1 lần. Đồng thời dùng cúc hoa trắng 15g, cam thảo 5g, đổ 200ml nước sắc còn 100ml, chia 2 lần nước trong ngày. Uống liền 5 ngày.
Bài 2: Chữa ho lâu ngày do nhiễm lạnh: Rễ rung rúc 30g, xuyên phá thạch 10g, cam thảo 9g. Tất cả cho vào ấm, đổ 700ml nước sắc còn 300ml chia 3 lần uống trong ngày sắc uống trong ngày, uống lúc còn ấm.  10 ngày một liệu trình.
Hoặc lá và cành non của cây rung rúc 60g rửa sạch, đổ 200ml nước sắc còn 100ml, đổ 60ml rượu trắng đun sôi, chia 2 lần uống trong ngày uống liên tục trong 15 ngày.
Bài 3: Hỗ trợ điều trị trĩ ngoại: Lá và cành non của cây rung rúc 30g, rửa sạch, thái ngắn; đuôi lợn 1 cái, làm sạch, chặt khúc ướp vừa, đổ nước và để lão thử nhĩ hầm nhừ ăn cả nước lẫn cái. 10 ngày một liệu trình.
Bài 4:  Chữa mẩn tịt: Rễ cây rung rúc 30g, đổ 500ml nước sắc còn 250, chia 3 lần uống trong ngày. 5 ngày một liệu trình.
Ngoài ra, theo sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của cố Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Đỗ Tất Lợi, để chữa phong tê thấp, xương khớp đau, nhức, mỏi, có thể sử dụng cây rung rúc như sau: Rễ rung rúc thái mỏng, sao vàng 200g, rượu trắng (30 – 40 độ) 1 lít; ngâm trong 15 ngày trở lên; ngày uống 20 – 30ml.